Chủ Nhật, 23/04/2017 4:56:57 CH
Ngày 27/04/2016 16:34:17
Thực trạng sản xuất gốm đỏ tỉnh Vĩnh Long
(Vinhlong.gov.vn) – Nhìn lại tình hình sản xuất gốm đỏ tỉnh Vĩnh Long 20 năm qua như sau:

Từ nguồn nguyên liệu đất sét được thiên nhiên ban tặng, sản xuất gạch ngói ở Vĩnh Long khá phát triển và trở thành nghề truyền thống. Sau gạch ngói, là gốm đỏ phát triển mạnh trong những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 và đem lại không ít lợi ích cho các địa phương. Thương hiệu Gốm đỏ Vĩnh Long đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy Chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 181462 (Quyết định số 13135/QĐ-SHTT ngày 20/3/2012). Sản xuất sản phẩm từ tài nguyên đất sét, sản phẩm gốm đỏ xuất hiện không ít trong các nghị quyết, quy hoạch, chiến lược phát triển, xác định thế mạnh, lợi thế cạnh tranh… của tỉnh và các địa phương. Tuy nhiên sau khoảng 20 năm được tôn vinh, đến bây giờ gốm đỏ ra sao, hãy nhìn lại một quãng đường phát triển vừa qua của ngành này.

Năm 2008, sản lượng gốm đạt 19,32 sản phẩm, chỉ bằng 87,32% năm 2007 và tiếp tục suy giảm trong các năm tiếp theo. Theo thống kê, năm 2009, số cơ sở sản xuất gốm giảm còn 99 cơ sở; đến cuối năm 2014 chỉ còn 45 cơ sở với 380 miệng lò, trong đó tạm ngưng hoạt động 11 cơ sở.

Sản lượng gốm qua các năm

 

Đơn vị

2007

2008

2009

2010

2011

1012

2013

2014

Sản lượng

Triệu cái

22,12

19,32

15,76

14,87

13,56

11,77

9,98

11,84

Giá trị

Tỉ đồng

1.681,12

1.468,02

1197,38

1.129,87

1.030,18

894,14

798,25

921,15

Nguồn: Sở Công Thương Vĩnh Long

Sản xuất kinh doanh gốm chưa hiệu quả do chi phí đầu vào cao dẫn đến sức mua của thị trường kém và sự cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại với giá thành thấp hơn. Năm 2012 doanh thu giảm 26,39% so với năm 2011, tỷ suất lợi nhuận giảm 26,96%; năm 2013 doanh thu tăng đột biến so với năm 2012 (tăng 36,4%) do giá nguyên vật liệu đầu vào tăng nhưng chi phí cũng tăng nên lợi nhuận giảm 50,97%, tỷ suất lợi nhuận giảm 65,5%.

Doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất gốm

Đơn vị tính: Triệu đồng

 

2011

2012

2013

2014

So sánh (%)

2012/2011

2013/2012

2014/2013

Doanh thu

859.743

632.895

863.508

912.230

-26,39

36,44

5,60

Chi phí

789.609

594.338

844.604

854.102

-24,73

42,11

11,24

Lợi nhuận

70.134

38.558

18.904

58.128

-45,02

-50,97

3,07

Tỷ suất lợi nhuận

0,09

0,06

0,02

0,07

-26,96

65,5

3,5

Nguồn: Sở Công Thương Vĩnh Long năm 2014

Sản xuất gốm đỏ chủ yếu là thủ công theo truyền thống, gồm các giai đoạn: nhào trộn đất sét, tạo hình sản phẩm gốm bằng phương pháp thủ công sau đó vận chuyển ra phơi, vận chuyển xếp vào lò, đốt lò, bít miệng lò và chuyển gốm ra thành phẩm. Thời gian đốt mỗi chu kỳ khoảng 30 ngày.

Tạo hình bằng nhiều phương pháp như xoay tay, in khuôn và đổ rót. Hoa văn được khắc họa lên khuôn in, khuôn rót, hoặc khắc chạm nổi, chìm, hoặc vẽ lên sản phẩm. Sản phẩm gốm Vĩnh Long chủ yếu sử dụng hoa văn nổi hoặc chìm trên nền gốm đất đỏ với nhiều chủ đề.

Nguồn nguyên liệu chính để sản xuất ra sản phẩm gốm là đất sét, ngoài ra để tạo nên thành phẩm còn sử dụng thêm cát sông. Đây là nguồn tài nguyên không thể tái tạo nên thu mua nguyên liệu ngày càng khó khăn.

Tài nguyên khoáng sản sét sản xuất gốm

 

Số thân sét

Trữ lượng sét (m3)

Toàn tỉnh

124

278.883.460

Huyện Tam Bình

27

64.507.320

Thị xã Bình Minh

09

32.089.320

Huyện Bình Tân

10

22.556.850

Huyện Trà Ôn

13

57.825.280

Huyện Long Hồ

27

15.726.240

Huyện Mang Thít

19

9.491.970

Huyện Vũng Liêm

19

76.687.080

 

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Long

Công nghệ nung gốm chủ yếu bằng lò tròn với nhiên liệu sử dụng chủ yếu là trấu. Đây là loại phế phẩm từ nông nghiệp, có nhiệt trị trung bình khoảng 3.400 Kcal/kg (14.212 kJ/kg, tương đương than cám); đây là loại phế phẩm từ nông nghiệp nên có thể cung ứng ổn định cho các cơ sở sản xuất với số lượng lớn và giá thành phù hợp. Trấu dễ đốt, đa số dùng phương pháp thủ công đốt bằng vỉ, trên những thanh ghi lò.

Lò tròn với công nghệ lửa đảo đã tạo nên sản phẩm gốm tốt, đồng đều hơn, tỷ lệ thành phẩm cao; lò tròn sử dụng nhiên liệu trấu, phù hợp với nguồn nhiên liệu phong phú của Vĩnh Long và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, kích thước lò lớn, công nghệ nung lạc hậu, thời gian nung lâu, suất tiêu hao nhiên liệu lớn, năng suất kém, hiệu quả kinh tế thấp, không có bộ phận xử lý khí thải, gây ô nhiễm môi trường.

Thị trường tiêu thụ sản phẩm gốm đỏ chủ yếu là Châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật, Úc, Hàn quốc… Gần đây, thị trường nước ngoài giảm sút nên các doanh nghiệp đã sản xuất các sản phẩm gốm trang trí nội và ngoại thất (cột, tường rào, phù điêu, đôn, mặt bàn, bộ ngựa…) cung ứng cho thị trường nội địa, mở ra khả năng phát triển mới cho ngành sản xuất gốm Vĩnh Long.

Thị trường tiêu thụ đã, đang và sẽ là một thách thức lớn đối với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất gốm ở Vĩmh Long. Do đó, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải chủ động đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm, xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp, phát triển thương hiệu, nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng mạng lưới tiêu thụ và tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường,…

Hiện tại gốm đỏ Vĩnh Long còn rất nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết: Mặt bằng sản xuất, đào tạo công nhân lành nghề, nghệ nhân chế tác, đổi mới công nghệ thiết bị, tổ chức tăng cường liên kết lại sản xuất một cách phù hợp với tình hình mới, đa dạng hoá sản phẩm và tìm kiếm mở rộng thị trường trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

Toàn tỉnh chỉ có một số ít doanh nghiệp có quy mô khá lớn, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, còn lại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất gốm có quy mô nhỏ, vốn ít, quản lý theo quy mô gia đình. Công nghệ sản xuất còn lạc hậu; mẫu mã sản phẩm còn đơn điệu, chưa khai thác được tiềm năng thị trường. Hoạt động marketing, nghiệp vụ xuất khẩu, trình độ ngoại ngữ còn nhiều hạn chế. Đa số doanh nghiệp không có khả năng đàm pháp ký kết hợp đồng xuất khẩu trực tiếp mà chủ yếu là gia công cho một số doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương. Do đó, doanh nghiệp không chủ động được kế hoạch sản xuất kinh doanh và chiến lược đầu tư dài hạn nên hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao.

Chi phí đầu vào tăng nhanh, trong khi đó thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, giá bán không tăng hoặc tăng rất ít. Sự cạnh tranh về giá cả trên thị trường xuất khẩu diễn ra gay gắt ngay giữa các doanh nghiệp gốm trong tỉnh và các tỉnh bạn, nhiều doanh nghiệp nhỏ phải chấp nhận những đơn hàng nhỏ, giá thấp để có việc làm cho người lao động.

Nguồn lao động có tay nghề của ngành gốm ngày càng thiếu hụt do thu nhập không ổn định nên người lao động không thiết tha với nghề. Do đó, khi có đơn hàng, các doanh nghiệp, cơ sở lại thiếu thợ. Tình trạng đó cũng khiến các doanh nghiệp khó thực hiện các hợp đồng lớn và thực hiện chế độ lao động theo quy định của pháp luật.

Tiếp cận các chương trình hỗ trợ phát triển ngành gốm còn nhiều hạn chế do doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính nên ít tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, cũng như giao thương trong và ngoài nước.

Nguyễn Nguyên

Các tin khác