Thứ Tư, 24/07/2019 2:38:58 CH
Ngày 11/03/2019 17:04:08
Công tác giảm nghèo năm 2018: Có 18.109 hộ nghèo, cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn được thụ hưởng chế độ.
(Vinhlong.gov.vn) - Với số hộ nghèo, cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn trên, trong năm qua, tỉnh Vĩnh Vĩnh Long đã chi hỗ trợ số tiền 221,757 tỷ đồng để triển khai thực hiện đầy đủ các chế độ an sinh xã hội như vay xuất khẩu lao động, giải quyết việc làm, nhà ở, hộ thoát nghèo đủ điều kiện được vay vốn và một số chính sách khác

Theo đó đã cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo là 27.413 thẻ, đạt 100%; 38.391 thẻ bảo hiểm y tế cho người cận nghèo, đạt 100%. Trong đó, cấp theo quyết định 797/QĐ-TTg là 20.965 thẻ, quyết định 705/QĐ-TTg là 17.426 thẻ; 2.630 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ mới thoát nghèo và 299 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nông lâm ngư nghiệp có mức sống trung bình.

Triển khai xây dựng hỗ trợ nhà ở hộ nghèo được 1.995 căn, gồm nhà ở hộ nghèo theo Quyết định 33/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo, với tổng số tiền 73,011 tỷ đồng.

Có 988 người nghèo, cận nghèo tham gia học nghề theo đề án 1956/QĐ-TTg với tổng kinh phí 1,5 tỷ đồng và có 34 người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo tham gia xuất khẩu lao động. Các ban, ngành, đoàn thể đã vận động các tổ chức, cá nhân với kinh phí được 189,9 tỷ đồng (Trong đó: Quỹ vì người nghèo 39,9 tỷ đồng; các Chương trình an sinh xã hội 150 tỷ đồng. Qua những kết quả trên, góp phần đạt các chỉ tiêu, nhiệm vụ về giảm nghèo năm 2018, đã giảm 1,08% tỷ lệ hộ nghèo, đạt 108% kế hoạch năm 2018, đến nay hộ nghèo toàn tỉnh còn 7.363 hộ, chiếm tỷ lệ 2,63%.

Kết quả huy động, phân bổ, sử dụng nguồn lực thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo nguồn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương: 7.435 triệu đồng (trong đó vốn đầu tư phát triển 3.169 triệu đồng (đầu tư cơ sở hạ tầng xã, ấp đặc biệt khó khăn), vốn sự nghiệp 4.266 triệu đồng, phân bổ cho công tác: dự án phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo; đầu tư cơ sở hạ tầng xã, ấp đặc biệt khó khăn; nâng cao năng lực; giám sát, đánh giá, truyền thông và thông tin về giảm nghèo. Kế hoạch phân bổ vốn ngân sách Trung ương là 7.435 triệu đồng, thực hiện đạt 95% kế hoạch, trong đó: Vốn đầu tư phát triển: là 3.169 triệu đồng, giải ngân đạt 100% kế hoạch. Vốn sự nghiệp: là 4.266 triệu đồng, đạt 95 % kế hoạch.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác giảm nghèo, thì  vẫn còn một số khó khăn, hạn chế như: Công tác điều hành, phối hợp giữa các thành viên Ban chỉ đạo các cấp trong thực hiện công tác giảm nghèo đôi lúc chưa thường xuyên. Hoạt động của Ban chỉ đạo một số xã chưa phát huy các nguồn lực hỗ trợ của nhà nước, xã hội và chính bản thân người nghèo. Đa số người nghèo có ít đất hoặc không có đất sản xuất, việc làm không ổn định, khả năng vươn lên thoát nghèo thấp, chuẩn nghèo hiện nay thấp so với mức sống trung bình của người dân.

Chênh lệch giàu - nghèo về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội giữa các địa phương có xu hướng gia tăng; sự hợp tác của người nghèo chưa cao, người nghèo chưa phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của chính bản thân. Mô hình phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho hộ nghèo chưa nhiều, một bộ phận hộ nghèo vay vốn ngân hàng sử dụng chưa hiệu quả. Hiện nay, còn nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp cho không đối với hộ nghèo nên chưa khuyến khích người nghèo tự vươn lên, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại của một bộ phận người nghèo như đối với dự án hỗ trợ hộ nghèo chăn nuôi bò nâng cao đời sống, với hình thức luân chuyển con giống thì một số hộ nghèo không chịu tham gia họ còn tư tưởng thích cho không.

 Hiện nay số hộ nghèo thuộc chính sách bảo trợ xã hội, chiếm 22,74% so với tổng hộ nghèo và hộ nghèo có người mắc bệnh mãn tính phải điều trị thường xuyên, hộ có người không còn khả năng lao động cũng còn cao, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến thực hiện công tác giảm nghèo và tỷ lệ giảm hộ nghèo còn gặp nhiều khó khăn..., các địa phương xây dựng kế hoạch giảm nghèo còn chung chung, nguồn lực dàn trải, chưa tập trung để hỗ trợ những hộ có khả năng thoát nghèo nhưng thiếu điều kiện.

Kim Yến-  Nguồn BC số: 35/BC-SLĐTBXH

Các tin khác