Thứ Bảy, 19/10/2019 10:34:26 SA
Ngày 30/07/2019 10:31:28
Đến năm 2020 có 100% cơ quan cấp tỉnh và cấp huyện kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước
(Vinhlong.gov.vn) - Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025, ngày 10/7/2019, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh với mục tiêu cụ thể như sau:

Theo kế hoạch thì giai đoạn 2019-2020, tỉnh sẽ ban hành các văn bản liên quan đến tạo lập, quản lý và chia sẻ dữ liệu dữ liệu dùng chung; quy định vận hành, quản lý và sử dụng hệ thống nền tảng LGSP sau khi triển khai.

100% cơ quan nhà nước cấp tỉnh và cấp huyện kết nối vào Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước; 100% cơ quan nhà nước cấp xã tham gia mạng diện rộng của tỉnh; xây dựng lại mô hình mạng diện rộng của tỉnh theo hướng các cơ quan, đơn vị truy cập Internet không qua mạng diện rộng của tỉnh.

Tập trung đầu tư hạ tầng kỹ thuật, công nghệ cho Trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh theo hướng tập trung là nơi tập trung hạ tầng kỹ thuật CNTT với khả năng lưu trữ, xử lý dữ liệu lớn, hệ thống bảo mật an toàn dữ liệu và các hệ thống phần mềm ứng dụng CNTT dùng chung của tỉnh, đảm bảo vận hành các hệ thống phần mềm của chính quyền điện tử; hệ thống dịch vụ, phần mềm phục vụ xây dựng đô thị thông minh.

Kết nối Trục kết nối liên thông ESB của tỉnh với Trục liên thông Quốc gia. - Xây dựng lộ trình kết nối các ứng dụng, dịch vụ khi cần chia sẻ, liên thông dữ liệu giữa các ứng dụng, hệ thống thông tin.

Tối thiểu 20% số lượng người dân, doanh nghiệp tham gia các hệ thống thông tin của tỉnh được xác thực định danh điện tử thông suốt và hợp nhất trên tất cả các hệ thống thông tin của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương.

100% thủ tục hành chính có đối tượng thực hiện thủ tục hành chính là cơ quan nhà nước đảm bảo mức độ 3, mức độ 4; 100% thủ tục hành chính đạt mức độ 2; 30% thủ tục hành chính có đối tượng thực hiện là doanh nghiệp đạt mức độ 4 và tăng tỷ lệ theo từng năm.

Tổ chức thực hiện việc nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4, tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến trên tổng số hồ sơ tiếp nhận giải quyết tối thiểu từ 20% và tăng dần trong các năm; 70% đối với các thủ tục hành chính có đối tượng sử dụng là cơ quan nhà nước; có giải pháp ưu tiên xử lý hồ sơ nộp trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 so với các hồ sơ nộp trực tiếp.

Đảm bảo Cổng Dịch vụ công tỉnh cung cấp giao diện cho các thiết bị di động; 100% dịch vụ công được hỗ trợ giải đáp thắc mắc cho người dân, doanh nghiệp; Tối thiểu 30% dịch vụ công trực tuyến thực hiện ở mức độ 4; 50% cơ quan nhà nước công khai mức độ hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến; Cổng Thông tin điện tử của tỉnh và 100% Cổng/Trang thông tin điện tử các sở, ban, ngành tỉnh và UBND cấp huyện công khai thông tin đầy đủ theo quy định tại Nghị định của Chính phủ;

20% dịch vụ công trực tuyến sử dụng chữ ký số trên nền tảng di động để thực hiện thủ tục hành chính; 50% dịch vụ công trực tuyến xử lý bằng hồ sơ điện tử; 20% thông tin của người dân được tự động nhập vào biểu mẫu trực tuyến; 50% dịch vụ công trực tuyến sử dụng dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp.

90% văn bản trao đổi giữa các cơ quan nhà nước (trừ văn bản mật theo quy định của pháp luật) dưới dạng điện tử; tối thiểu 80% hồ sơ công việc tại cấp cấp tỉnh, 60% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 30% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (không bao gồm hồ sơ xử lý công việc có nội dung mật).

Tối thiểu 30% báo cáo định kỳ (không bao gồm nội dung mật) được gửi, nhận qua hệ thống thông tin báo cáo của tỉnh.

Rút ngắn từ 30% - 50% thời gian họp, giảm tối đa việc sử dụng tài liệu giấy thông qua hệ thống hội nghị truyền hình và hệ thống các ứng dụng công nghệ thông tin.

Nâng cao vị trí xếp hạng về ICT Index, chỉ số cải cách hành chính của tỉnh trong khu vực.

100% sở, ban, ngành tỉnh, UBND cấp huyện, cấp xã triển khai và sử dụng có hiệu quả hệ thống cung cấp dịch vụ công trực tuyến của tỉnh: cung cấp trực tuyến 30% thủ tục hành chính đạt mức độ 4; 10% dịch vụ công trực tuyến sử dụng chữ ký số để thực hiện thủ tục hành chính.

Tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến trên tổng số hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh đạt từ 20% trở lên; tích hợp 30% các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của tỉnh với Cổng Dịch vụ công quốc gia; 100% hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính được thực hiện thông qua hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp tỉnh.

Cổng Dịch vụ công của tỉnh tích hợp tất cả thủ tục hành chính từ cấp tỉnh đến cấp xã, Hệ thống thông tin một cửa điện tử liên thông và thống nhất 100% cơ quan hành chính nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp xã; Hoàn thành việc kết nối Cổng dịch vụ công của tỉnh với Cổng dịch vụ công quốc gia; Triển khai hoàn thiện hệ thống đánh giá sự hài lòng của người dân đối với việc thực hiện thủ tục hành chính từ cấp tỉnh đến cấp xã.

Xây dựng kho dữ liệu mở dùng chung trong cơ quan nhà nước từng bước hình thành kho dữ liệu lớn của tỉnh; triển khai liên kết, thu thập các nguồn dữ liệu, thông tin từ các doanh nghiệp, người dân phục vụ dự báo tình hình kinh tế xã hội, trật tự an toàn xã hội để xây dựng các chiến lược, kế hoạch phát triển của các ngành, các lĩnh vực một cách tổng thể.

100% các sở, ban, ngành tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố công khai mức độ hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến.

Đồng thời, cũng theo kế hoạch, giai đoạn 2021 – 2025 sẽ tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin; tăng cường triển khai các giải pháp đảm bảo an toàn thông tin; đảm bảo 100% cơ quan trực thuộc các sở, ban, ngành tỉnh và UBND cấp huyện, UBND cấp xã kết nối mạng diện rộng và được đảm bảo kiểm tra việc an toàn thông tin từ Trung tâm tích hợp dữ liệu tỉnh.

Tiếp tục phát triển các hệ thống Chính quyền điện tử, hoàn thành kết nối các Cơ sở dữ liệu của tỉnh và của trung ương sau khi triển khai và được sự chấp thuận của cơ quan chủ quản.

Cổng Dịch vụ công, Hệ thống thông tin Một cửa điện tử cấp tỉnh được kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia; 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 phổ biến, liên quan tới nhiều người dân, doanh nghiệp được tích hợp lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; 100% giao dịch trên Cổng Dịch vụ công của tỉnh và Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp tỉnh được xác thực điện tử.

40% số lượng người dân và doanh nghiệp tham gia hệ thống Chính quyền điện tử được xác thực định danh điện tử thông suốt và hợp nhất trên tất cả các hệ thống thông tin của các cấp chính quyền từ tỉnh đến xã.

Tỷ lệ hồ sơ giải quyết theo dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trên tổng số hồ sơ đạt từ 50% trở lên; 80% thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu được triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; tích hợp 50% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của tỉnh với Cổng Dịch vụ công quốc gia; tối thiểu 90% người dân và doanh nghiệp hài lòng về việc giải quyết thủ tục hành chính.

60% các hệ thống thông tin của của tỉnh có liên quan đến người dân, doanh nghiệp đã đưa vào vận hành, khai thác được kết nối, liên thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu; thông tin của người dân, doanh nghiệp đã được số hóa và lưu trữ tại các kho dữ liệu mở của tỉnh (dữ liệu lớn, big data), cơ sở dữ liệu quốc gia không phải cung cấp lại.

90% hồ sơ công việc tại cấp tỉnh, 80% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 60% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (không bao gồm hồ sơ xử lý công việc có nội dung mật).

80% báo cáo định kỳ (không bao gồm nội dung mật) của các cơ quan hành chính nhà nước được cập nhật, chia sẻ trên Hệ thống thông tin báo cáo của tỉnh, phục vụ hiệu quả hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành.

Tiếp tục hoàn thiện kho dữ liệu mở dùng chung của tỉnh trong cơ quan nhà nước từng bước hình thành kho dữ liệu lớn của tỉnh; triển khai liên kết, thu thập các nguồn dữ liệu, thông tin từ các doanh nghiệp, người dân phục vụ dự báo tình hình kinh tế xã hội, trật tự an toàn xã hội để xây dựng các chiến lược, kế hoạch phát triển của các ngành, các lĩnh vực một cách tổng thể.

Nguyễn Nguyên- Nguồn KH số: 40/KH-UBND

Các tin khác