Về cơ cấu cấp ủy cơ bản thực hiện bố trí bí thư (phó bí thư) cấp ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân ở cấp tỉnh, cấp xã; mỗi đồng chí trong thường trực cấp ủy cấp tỉnh cơ bản không giữ quá 2 chức danh trong các chức danh lãnh đạo tỉnh, thành phố; cơ bản thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh không là người địa phương gắn với việc sử dụng, bố trí hài hòa nguồn cán bộ tại chỗ trong quy hoạch; không để các đồng chí bí thư cấp ủy cấp trên trực tiếp cơ sở và tương đương trở lên đã giữ chức vụ quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp (từ 8 năm trở lên) tại một địa phương, cơ quan, đơn vị; phấn đấu đạt tỉ lệ cấp ủy viên nữ từ 15% trở lên và có cán bộ nữ trong ban thường vụ; phấn đấu tỉ lệ cán bộ trẻ (dưới 42 tuổi đối với cấp tỉnh, cấp xã) từ 10% trở lên (tính cho cả nhiệm kỳ); phấn đấu tỉ lệ cán bộ có trình độ khoa học, công nghệ khoảng 5%; tỉ lệ cấp ủy viên là người dân tộc thiểu số bảo đảm phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân tộc và điều kiện cụ thể của từng địa phương, cơ quan, đơn vị; phấn đấu đổi mới không dưới 1/3 tổng số cấp ủy viên trong nhiệm kỳ (không thực hiện đối với đảng bộ hợp nhất, sáp nhập).
Về số lượng cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ, phó bí thư cấp ủy các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 được quy định cụ thể như sau:
Đối với Đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Các địa phương hợp nhất, sáp nhập thì giữ số lượng ban chấp hành, ban thường vụ, phó bí thư tỉnh ủy, thành ủy nhiệm kỳ 2025-2030 như số lượng chỉ định tại thời điểm sau hợp nhất, sáp nhập nhiệm kỳ 2020-2025 (trừ các đồng chí không đủ tuổi tái cử, chuyển công tác khác hoặc có thời gian 5 năm sau khi hợp nhất, sáp nhập, đến nhiệm kỳ 2030-2035 số lượng cấp ủy sẽ thực hiện theo quy định mới của Bộ Chính trị; Các địa phương không hợp nhất, sáp nhập thì số lượng ban chấp hành, ban thường vụ thực hiện như nhiệm kỳ 2015-2020; đối với số lượng phó bí thư thực hiện theo Kết luận số 102-KL/TW ngày 30/11/2024 của Bộ Chính trị.
Đối với Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương có số lượng ban chấp hành không quá 39 đồng chí, ban thường vụ không quá 17 đồng chí. Số lượng phó bí thư gồm có 01 phó bí thư thường trực và 2-3 phó bí thư chuyên trách.
Đối với Đảng bộ Chính phủ có số lượng ban chấp hành không quá 61 đồng chí, ban thường vụ không quá 17 đồng chí. Số lượng phó bí thư gồm có 01 phó bí thư thường trực và 2-3 phó bí thư chuyên trách.
Đối với Đảng bộ Quốc hội có số lượng ban chấp hành không quá 43 đồng chí, ban thường vụ không quá 21 đồng chí. Số lượng phó bí thư gồm có 01 phó bí thư thường trực và 2-3 phó bí thư chuyên trách.
Đối với Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương có số lượng ban chấp hành không quá 45 đồng chí, ban thường vụ không quá 15 đồng chí. Số lượng phó bí thư gồm có 01 phó bí thư thường trực và 2-3 phó bí thư chuyên trách.
Sau Đại hội XIV của Đảng, Bộ Chính trị sẽ chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư nhiệm kỳ 2025-2030 của Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng bộ Chính phủ, Đảng bộ Quốc hội và Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương (tương tự như đối với Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương). Trường hợp thật sự cần thiết, Bộ Chính trị sẽ xem xét tăng thêm số lượng phó bí thư chuyên trách của 4 đảng bộ để bố trí, sắp xếp cán bộ.
Đối với Đảng bộ xã, phường trực thuộc cấp tỉnh có số lượng ban chấp hành từ 27-33 đồng chí; trong đó, đảng bộ hợp nhất, sáp nhập từ 2 xã (phường) hoặc đảng bộ xã không thuộc diện hợp nhất, sáp nhập thì số lượng tối đa không quá 27; đảng bộ hợp nhất, sáp nhập từ 3 xã (phường) trở lên thì số lượng tối đa không quá 33. Ban thường vụ từ 9-11 đồng chí. Số lượng phó bí thư gồm có 01 phó bí thư thường trực và 01 phó bí thư, chủ tịch UBND.
Đối với các đảng bộ trực thuộc 4 đảng bộ trực thuộc Trung ương có số lượng ban chấp hành từ 25 đến 33 đồng chí, ban thường vụ từ 7 đến 11 đồng chí. Số lượng phó bí thư (gồm cả các đảng bộ cơ sở được giao quyền cấp trên cơ sở) gồm 01 phó bí thư thường trực và 01 phó bí thư chuyên trách.
Đối với 2 đảng bộ trực thuộc đảng bộ tỉnh, thành phố: Đảng bộ các cơ quan Đảng tỉnh, thành phố không hợp nhất, sáp nhập có số lượng ban chấp hành không quá 27; các tỉnh, thành phố sáp nhập không quá 41; thành phố Hà Nội không quá 33. Ban thường vụ các tỉnh, thành phố không hợp nhất, sáp nhập không quá 9; các tỉnh, thành phố hợp nhất, sáp nhập không quá 11. Số lượng phó bí thư đối với các tỉnh, thành phố có 1 phó bí thư thường trực và 1 phó bí thư chuyên trách; thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh có 2 phó bí thư và 1 phó bí thư chuyên trách; Đảng bộ UBND tỉnh, thành phố không hợp nhất, sáp nhập có số lượng ban chấp hành không quá 27; các tỉnh, thành phố hợp nhất, sáp nhập không quá 41; thành phố Hà Nội không quá 33. Ban thường vụ các tỉnh, thành phố không hợp nhất, sáp nhập không quá 9; các tỉnh, thành phố hợp nhất, sáp nhập và thành phố Hà Nội không quá 11. Số lượng phó bí thư gồm 01 phó bí thư thường trực và 1-2 phó bí thư chuyên trách. Sau khi phân công, kiện toàn nhân sự ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư tỉnh ủy, thành ủy nhiệm kỳ 2025-2030 thì ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy mới chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư nhiệm kỳ 2025-2030 đối với 2 đảng bộ trực thuộc đảng bộ tỉnh, thành phố.
Đối với các đảng bộ cấp trên trực tiếp cơ sở khác (gồm cả đảng bộ cấp trên cơ sở doanh nghiệp của Bộ Công an) có số lượng ban chấp hành từ 21 đến 27 đồng chí; ban thường vụ từ 7 đến 9 đồng chí, phó bí thư từ 1 đến 2 đồng chí. Đối với những đảng bộ tập đoàn kinh tế, tổng công ty, ngân hàng thương mại nhà nước tổ chức theo mô hình đảng bộ toàn tập đoàn kinh tế, tổng công ty nêu tại Quy định số 60-QĐ/TW, ngày 08/3/2022 của Ban Bí thư, có phạm vi hoạt động rộng, nhiều đầu mối trực thuộc, có số lượng đảng viên lớn,… thì số lượng ban chấp hành không quá 39 đồng chí, ủy viên ban thường vụ từ 11 đến 13 đồng chí.
Đối với các đảng bộ cơ sở trực thuộc 4 đảng bộ trực thuộc Trung ương có số lượng ban chấp hành không quá 23 đồng chí, ban thường vụ không quá 7 đồng chí. Số lượng phó bí thư gồm có 01 đồng chí phó bí thư thường trực.
Đối vưới các đảng bộ (chi bộ) cơ sở trực thuộc đảng bộ các cơ quan đảng và đảng bộ UBND cấp tỉnh có số lượng ban chấp hành không quá 15 đồng chí, ban thường vụ không quá 5 đồng chí.
Đối với các đảng bộ (chi bộ) cơ sở thuộc loại hình khác (gồm cả đảng bộ cấp cơ sở được giao hoặc thí điểm giao một số quyền cấp trên cơ sở theo Quy định số 113-QĐ/TW ngày 10/7/2023 của Ban Bí thư) có số lượng cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ cơ bản thực hiện như ở nhiệm kỳ 2020-2025. Đảng bộ cơ sở trong doanh nghiệp nhà nước có phạm vi hoạt động rộng, nhiều đầu mối trực thuộc, đông đảng viên, thì số lượng cấp ủy không quá 19 đồng chí, ban thường vụ không quá 5 đồng chí. Đảng bộ cơ sở được giao hoặc thí điểm giao một số quyền cấp trên cơ sở theo Quy định số 113-QĐ/TW ngày 10/7/2023 của Ban Bí thư thì số lượng cấp ủy không quá 27 đồng chí, ban thường vụ từ 7 đến 9 đồng chí, do ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh xem xét, quyết định số lượng cụ thể.
Đối với những đảng bộ thực hiện việc hợp nhất, sáp nhập (gồm cả Đảng bộ Công an) theo quy định, thì số lượng cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ, phó bí thư, ủy ban kiểm tra cấp ủy tại thời điểm hợp nhất, sáp nhập có thể nhiều hơn số lượng nêu tại Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 14/4/2025 của Bộ Chính trị nhưng tối đa không quá tổng số lượng hiện có của các đảng bộ trước khi hợp nhất (không bao gồm các đồng chí đến tuổi nghỉ hưu, nghỉ công tác hoặc chuyển công tác khác) và chậm nhất sau 5 năm kể từ ngày thành lập đảng bộ mới, thì số lượng phải thực hiện theo quy định.
Đối với Đảng bộ Quân đội, Công an thì thực hiện theo quy định riêng của Bộ Chính trị.
Đối với Đảng bộ đặc khu trực thuộc cấp tỉnh thì ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy trao đổi, thống nhất với Ban Tổ chức Trung ương để xem xét, quyết định cho phù hợp với đặc điểm, tình hình địa phương và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Kim Hương – Nguồn Chỉ thị số: 45-CT/TW