Theo đó, trong những năm qua, kết quả thực hiện Chương trình đã góp phần thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập của vùng dân tộc thiểu số so với bình quân chung của cả tỉnh, cả nước; kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có bước phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện rõ rệt, đặc biệt là hộ nghèo, hộ cận nghèo dân tộc thiểu số; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư đồng bộ, liên vùng, kết nối với các vùng; nhà ở, đất ở, đất sản xuất (chuyển đổi nghề), nước sinh hoạt, việc làm cho lao động được quan tâm giải quyết; sự nghiệp giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức khoẻ Nhân dân có chuyển biến tích cực; người nghèo đã tiếp cận thuận lợi và đầy đủ hơn các chính sách trợ giúp của Nhà nước, các chính sách an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời; hệ thống chính trị cơ sở ngày càng được củng cố vững mạnh và hoạt động có hiệu quả, đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội trong vùng được giữ vững, góp phần nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo, nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước.
Kết quả thực hiện các mục tiêu như sau: Mức thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số đạt 84,3 triệu đồng/người/năm. Tổng số hộ nghèo dân tộc thiểu số 1.414/993.179 hộ (chiếm 11,54% so với tổng số hộ nghèo toàn tỉnh, chiếm 1,40% so với tổng số hộ dân tộc thiểu số và chiếm 0,14% so với hộ dân toàn tỉnh). 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc bê tông. 100% ấp, khóm có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa. Trên 93% trường, lớp học và trạm y tế được xây dựng kiên cố. Có 99,42% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác phù hợp. Có 96,5% hộ đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số được xem truyền hình và nghe đài phát thanh đạt 100%. Tỷ lệ học sinh học mẫu giáo 5 tuổi đạt 99%, học sinh trong độ tuổi học tiểu học đạt 100%, học trung học cơ sở đạt 98,6%, học trung học phổ thông đến trường đạt 85%; tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông đạt 92,66%. Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 96%; trên 90% phụ nữ có thai được khám thai định kỳ, sinh con ở cơ sở y tế hoặc có sự trợ giúp của cán bộ y tế; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân xuống dưới 5%. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu; 100% ấp, khóm có nhà sinh hoạt cộng đồng; 50% ấp, khóm có đội văn hóa, văn nghệ (câu lạc bộ) truyền thống. 100% đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, nhất là các hộ dân tộc thiểu số tại chỗ được đào tạo, quy hoạch theo quy định. Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số được sắp xếp, bố trí phù hợp với tỷ lệ dân số là người dân tộc thiểu số ở từng địa phương.
Bên cạnh đó, có 216,75 km đường giao thông nông thôn được nhựa hóa, bê tông hóa hoặc cứng hóa đường nông thôn; 418 hộ được giải quyết nước sinh hoạt, 03 công trình nước sinh hoạt tập trung; 09 trường phổ thông dân tộc nội trú được tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học; 44 hộ được giải quyết đất ở; 1.270 hộ nhà ở; 545 hộ sinh kế; 01 công trình văn hóa phi vật thể; 01 lễ hội được phục dựng, bảo tồn; 68 thiết chế văn hoá, thể thao thôn được đầu tư; 04 điểm đến du lịch tiêu biểu vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được xây dựng; 1.531 cán bộ, công chức, viên chức được bồi dưỡng kiến thức về công tác dân tộc.
Lâm Dung – Nguồn Báo cáo số 554/BC-UBND