Trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực có nhiều biến động, nhu cầu tiêu thụ tôm tại các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản có xu hướng gia tăng, cùng với việc thực thi các hiệp định thương mại tự do đã góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, ngành tôm cũng đối mặt với không ít thách thức như giá vật tư đầu vào tăng, rào cản kỹ thuật khắt khe, yêu cầu cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia xuất khẩu tôm lớn.
Trước tình hình đó, tỉnh Vĩnh Long đã chủ động ban hành và triển khai 17 văn bản chỉ đạo, kế hoạch, đề án nhằm cụ thể hóa các nhiệm vụ theo Quyết định số 79/QĐ-TTg. Công tác chỉ đạo, điều hành được thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi để ngành tôm phát triển.
Kết quả triển khai cho thấy, các chỉ tiêu phát triển ngành tôm của tỉnh đạt được nhiều kết quả tích cực. Đến năm 2020, diện tích thả nuôi đạt 71.660 ha, đạt 111,3% so với kế hoạch; sản lượng đạt 142.890 tấn. Đến năm 2025, diện tích thả nuôi đạt 74.600 ha, đạt 97% kế hoạch, trong khi sản lượng đạt 315.960 tấn, đạt 157% so với kế hoạch.
Cùng với đó, tỉnh Vĩnh Long đã tích hợp quy hoạch phát triển thủy sản nói chung và quy hoạch phát triển ngành tôm nước lợ nói riêng vào Quy hoạch tỉnh và Quy hoạch sử dụng đất. Các địa phương đã cụ thể hóa bằng các kế hoạch, phương án phát triển ngành tôm giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, tập trung xây dựng vùng nuôi tập trung, áp dụng các mô hình nuôi tiên tiến, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nhiều mô hình sản xuất hiệu quả được nhân rộng, như mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao sử dụng ao nuôi lót bạt, công nghệ Biofloc, hệ thống sục khí, cho ăn tự động nhằm kiểm soát chặt chẽ môi trường nước và phòng ngừa dịch bệnh hiệu quả. Hiện toàn tỉnh có gần 5.900 ha nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao, năng suất đạt từ 50–70 tấn/ha. Ngoài ra, mô hình tôm – lúa với diện tích gần 8.000 ha và mô hình rừng – tôm với hơn 12.000 ha tiếp tục phát huy hiệu quả, vừa nâng cao thu nhập cho người dân, vừa góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
Công tác đầu tư hạ tầng phục vụ nuôi tôm được quan tâm, với tổng kinh phí hơn 557 tỷ đồng từ ngân sách Trung ương và địa phương. Các dự án hạ tầng vùng nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao tại khu vực Bến Tre, Trà Vinh đã góp phần cải thiện điều kiện hạ tầng, tăng cường giao thương, lưu thông hàng hóa, qua đó thúc đẩy ngành tôm của tỉnh phát triển ổn định, bền vững.
Bên cạnh đó, tỉnh chú trọng kiểm soát chất lượng giống, thức ăn và vật tư đầu vào; tăng cường quan trắc, cảnh báo môi trường vùng nuôi; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người nuôi. Trong giai đoạn 2018–2025, tỉnh đã tổ chức hàng trăm lớp tuyên truyền, tập huấn với hàng chục nghìn lượt người tham gia, góp phần nâng cao nhận thức và trình độ sản xuất của người dân.
Tuy đạt được nhiều kết quả quan trọng, ngành tôm của tỉnh vẫn còn một số khó khăn như: việc liên kết và xây dựng chuỗi giá trị ngành tôm còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là tình trạng “được mùa, mất giá” vẫn xảy ra; quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu; doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư vào ngành tôm trên địa bàn tỉnh, nhất là đầu tư phát triển vùng nuôi, vùng sản xuất giống tập trung và nhà máy chế biến.
Phạm Hân – nguồn Báo cáo số 765/BC-UBND