Theo đó, mục đích của Kế hoạch nhằm góp phần xây dựng thế hệ con người Vĩnh Long tương lai giàu lòng yêu nước, có niềm tự hào dân tộc, đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, trình độ và sức khỏe để đáp ứng yêu cầu xây dựng quê hương, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Việc tạo ra đột phá trong giáo dục và đào tạo chính là giải pháp nền tảng và bền vững để nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI), cải thiện năng suất lao động, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của tỉnh, thu hút các nhà đầu tư chất lượng cao và đảm bảo sự phát triển nhanh, bền vững cho Vĩnh Long trong dài hạn.
Phấn đấu đưa Vĩnh Long trở thành một trong những tỉnh dẫn đầu vùng Đồng bằng sông Cửu Long về giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nhằm dẫn dắt các lĩnh vực khác phát triển, nhất là về chất lượng giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, nông nghiệp công nghệ cao và dịch vụ logistics của khu vực, cần tập trung vào các chỉ tiêu định lượng cao.
Cụ thể, phấn đấu đến năm 2030 sẽ mở rộng tiếp cận công bằng, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt trình độ khá của cả nước; quy hoạch, sắp xếp mạng lưới trường, điểm trường phù hợp với quy mô dân số học sinh và điều kiện vùng, miền, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng dân tộc; hoàn thành giáo dục bắt buộc hết trung học cơ sở; phấn đấu có ít nhất 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia; có ít nhất 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp chuẩn quốc gia; hoàn thành phổ cập mầm non cho trẻ 3 - 5 tuổi; ít nhất 90% người trong độ tuổi hoàn thành cấp trung học phổ thông và tương đương; 100% học sinh phổ thông được học môn tin học có nội dung về trí tuệ nhân tạo (AI) và lập trình cơ bản; 100% cơ sở giáo dục phổ thông tổ chức dạy tiếng Anh, phấn đấu 100% học sinh phổ thông đạt năng lực ngoại ngữ theo chuẩn đầu ra của chương trình giáo dục phổ thông; phấn đấu chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) đạt trên 0,8, trong đó chỉ số bất bình đẳng giáo dục giảm xuống dưới 10%...
Mục tiêu đến năm 2035: Hệ thống giáo dục và đào tạo tiếp tục được hiện đại hóa, có bước tiến mạnh, vững chắc về tiếp cận, công bằng và chất lượng; hoàn thành phổ cập trung học phổ thông và tương đương; 100% trường phổ thông công lập có phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm hiện đại, đạt tiêu chuẩn tương đương khu vực ASEAN; 100% giáo viên đạt chuẩn nghề nghiệp mức Tốt hoặc tương đương và có khả năng giảng dạy tích hợp công nghệ số; 50 % cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học có trình độ trên chuẩn, có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong giảng dạy….
Tầm nhìn đến năm 2045, tỉnh Vĩnh Long có hệ thống giáo dục hiện đại, công bằng và chất lượng, nằm trong nhóm 20 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về chất lượng giáo dục và đào tạo. Mọi người dân có cơ hội học tập suốt đời, nâng cao trình độ, kỹ năng và phát triển tối đa tiềm năng cá nhân. Tỉnh có nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài khoa học, công nghệ là động lực và lợi thế cạnh tranh cốt lõi của tỉnh. 70% cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học có trình độ trên chuẩn, có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong giảng dạy.
Để thực hiện đạt các mục tiêu, kế hoạch cũng đề ra các giải pháp tập trung thực hiện như: tập trung nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy và hành động trong toàn hệ thống chính trị và xã hội, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nhiệm vụ trọng tâm trong quy hoạch, xây dựng chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh; đồng thời chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị dựa trên chuẩn mực, minh chứng, kết quả đầu ra và văn hóa chất lượng.
Song song đó, đổi mới mạnh mẽ thể chế, xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục và đào tạo, tập trung hoàn thiện các quy định về thỉnh giảng, hợp đồng, huy động người giỏi; thực hiện chính sách học phí, miễn giảm, hỗ trợ học tập; khuyến khích xã hội hóa, đa dạng hóa nguồn lực; phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi; tăng cường tự chủ cho các cơ sở đào tạo; thúc đẩy hợp tác “Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp” và bảo đảm tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục theo quy định.
Tăng cường giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ, hình thành hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới. Tập trung giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống, kỹ năng sống, văn hóa học đường; nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng – an ninh, pháp luật; đẩy mạnh giáo dục thể chất, dinh dưỡng học đường, góp phần hình thành hệ giá trị con người Việt Nam.
Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo, xây dựng và phát triển cơ sở dữ liệu giáo dục, triển khai các nền tảng, học liệu số, kiểm tra đánh giá trực tuyến; chuẩn năng lực số cho người học, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; bảo đảm cung cấp đầy đủ dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực giáo dục.
Bên cạnh đó cũng tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo và cơ sở vật chất trường lớp đạt chuẩn, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông; triển khai chương trình giáo dục mầm non mới, tiếp tục thực hiện chương trình giáo dục phổ thông, đổi mới kiểm tra đánh giá, phát triển trường chuyên, tăng cường dạy và học ngoại ngữ, đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, thực hiện lộ trình cung cấp miễn phí sách giáo khoa.
Tập trung cải cách, hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, tạo đột phá phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao; hiện đại hóa, nâng tầm giáo dục đại học, tạo đột phá phát triển nhân lực trình độ cao và nhân tài, dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo, mở rộng liên kết với các cơ sở giáo dục uy tín nước ngoài, triển khai chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, thu hút chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại địa phương….
Ngọc Hân – Nguồn Kế hoạch số: 12/KH-UBND