Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh giao Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch UBND các xã, phường căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao tổ chức quán triệt, phổ biến và triển khai thực hiện Nghị quyết số 15/2026/NQ-HĐND ngày 29 tháng 5 năm 2026 của Hội đồng nhân dân tỉnh đảm bảo kịp thời, theo đúng quy định.
UBND các xã, phường bố trí kinh phí đảm bảo thực hiện chế độ, chính sách; trang bị trang phục, phương tiện, thiết bị phục vụ hoạt động nhằm động viên, khuyến khích, nâng cao trách nhiệm của lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở theo quy định.
Đồng thời, giao Giám đốc Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, địa phương có liên quan nghiên cứu, tham mưu UBND tỉnh triển khai thực hiện đầy đủ các nội dung thuộc phạm vi trách nhiệm của UBND tỉnh; tổ chức thực hiện, đảm bảo sự đồng bộ và thống nhất về tổ chức, hoạt động của Tổ bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở với Đội dân phòng theo đúng mục tiêu đề ra. Đồng thời, giúp UBND tỉnh theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện Nghị quyết số 15/2026/NQ-HĐND đảm bảo đúng quy định.
Nghị quyết số 15/2026/NQ-HĐND ngày 29 tháng 5 năm 2026 của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Quy định tiêu chí thành lập, số lượng thành viên Tổ bảo vệ an ninh, trật tự và chế độ, chính sách đối với lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08 tháng 6 năm 2026.
Theo Nghị quyết, Tổ bảo vệ an ninh, trật tự được bố trí ở ấp, khóm, khu phố thuộc xã, phường; mỗi ấp, khóm, khu phố thành lập 01 Tổ bảo vệ an ninh, trật tự, gồm có Tổ trưởng, Tổ phó và Tổ viên.
Về tiêu chí số lượng thành viên Tổ bảo vệ an ninh, trật tự: Đối với ấp, khóm, khu phố có từ 4.000 nhân khẩu trở lên: bố trí 04 thành viên/01 tổ, gồm Tổ trưởng, 01 Tổ phó và 02 Tổ viên. Đối với các ấp, khóm, khu phố còn lại không thuộc điểm a khoản này: bố trí 03 thành viên/01 tổ, gồm Tổ trưởng, 01 Tổ phó và 01 Tổ viên. Đối với các Tổ bảo vệ an ninh, trật tự có số lượng thành viên vượt quá tiêu chí quy định tại Nghị quyết này, được tiếp tục bố trí số lượng như hiện có và thực hiện lộ trình sắp xếp, tinh giản như sau: Đảm bảo kể từ năm 2027, mỗi năm thực hiện giảm ít nhất 50% số lượng thành viên dôi dư; hoàn thành công tác tinh giản chậm nhất đến ngày 15 tháng 12 năm 2028.
Nghị quyết quy định mức hỗ trợ đối với người tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, cụ thể: Mức hỗ trợ thường xuyên hằng tháng đối với tổ trưởng là 2.200.000 đồng/người/tháng. Tổ phó là 2.000.000 đồng/người/tháng. Tổ viên là 1.800.000 đồng/người/tháng. Trường hợp thành viên Tổ bảo vệ an ninh, trật tự giữ nhiều chức danh khác nhau thì chỉ được hưởng một mức hỗ trợ/phụ cấp/trợ cấp thường xuyên hàng tháng cao nhất trong các chức danh đảm nhiệm.
Mức hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế: Hỗ trợ 100% kinh phí mua bảo hiểm y tế hàng năm. Hỗ trợ 30% mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hàng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Trường hợp người tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở không tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định tại Nghị quyết này hoặc đã được hưởng chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội do ngân sách Nhà nước chi trả theo quy định pháp luật thì không được hưởng chế độ hỗ trợ tương ứng theo quy định.
Về chế độ bồi dưỡng đối với người tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở khi thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của cấp có thẩm quyền. Khi làm nhiệm vụ từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau thì được hưởng mức tiền bồi dưỡng 100.000 đồng/người/ca (01 ca từ đủ 04 giờ trở lên); trường hợp 01 ca dưới 04 giờ thì chi theo số giờ thực tế phát sinh, với định mức là 25.000 đồng/giờ; tối đa 10 ca/tháng.
Khi làm nhiệm vụ vào ngày nghỉ, ngày lễ thì được hưởng mức tiền bồi dưỡng bằng 180.000 đồng/người/ngày (01 ngày làm việc từ đủ 08 giờ); trường hợp 01 ngày làm việc dưới 08 giờ thì chi theo số giờ thực tế phát sinh, với định mức là 25.000 đồng/giờ; tổng số giờ làm việc ngoài giờ tối đa thực hiện theo quy định pháp luật về lao động hiện hành.
Khi thực hiện công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật về lao động theo sự phân công của cấp có thẩm quyền hoặc khi được điều động, huy động thực hiện nhiệm vụ được hưởng mức tiền bồi dưỡng 32.000 đồng/người/ngày.
Khi làm nhiệm vụ tại những nơi thuộc khu vực biên giới, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hoặc tại đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm về quốc phòng được hưởng mức tiền bồi dưỡng ngày công lao động bằng 25.000 đồng/người/ngày nhưng không quá 10 ngày/người/tháng.
Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng quy định về trợ cấp đối với người tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở chưa tham gia bảo hiểm y tế hoặc bảo hiểm xã hội mà bị tai nạn, bị chết khi thực hiện nhiệm vụ nếu bị ốm đau, bị tai nạn, bị thương được hỗ trợ 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo danh mục thuộc phạm vi được hưởng bảo hiểm y tế quy định; hỗ trợ tiền ăn 80.000 đồng/người/ngày trong thời gian điều trị nội trú đến khi ổn định sức khỏe ra viện. Người tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở chết khi thực hiện nhiệm vụ nhưng chưa tham gia bảo hiểm xã hội hoặc đã tham gia bảo hiểm xã hội nhưng chưa đủ điều kiện hưởng trợ cấp tiền tuất, tiền mai táng phí thì thân nhân được hưởng trợ cấp tiền tuất một lần bằng 2,0 lần mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn; thân nhân hoặc tổ chức, cá nhân lo mai táng được nhận tiền mai táng phí bằng 10 lần mức lương cơ sở.
Phan Thảo - Nguồn Công văn số 7714/UBND-NC, Nghị quyết số 15/2026/NQ-HĐND