Theo đó, ngày 31/5/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công văn số 3185/BGDĐT-KHTC về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung về giáo dục và đào tạo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030. Theo hướng dẫn, việc triển khai các nội dung thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo phải bảo đảm cụ thể hóa các nhiệm vụ của ngành giáo dục được giao tại các nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ; gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; thực hiện đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, tránh trùng lặp, chồng chéo với các chương trình, đề án, chính sách đang triển khai và sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả; ưu tiên đầu tư cho các cơ sở giáo dục tại địa bàn đặc biệt khó khăn; các trường học chưa bảo đảm tiêu chuẩn cơ sở vật chất tối thiểu, còn phải thuê, mượn hoặc đã xuống cấp. Đặc biệt chú trọng các công trình vệ sinh phù hợp giới, khu sinh hoạt chung, công trình phục vụ học sinh nội trú, bán trú, y tế trường học; ưu tiên các cơ sở giáo dục bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ, biến đổi khí hậu và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn.
Mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành các nội dung tiêu chí về giáo dục và đào tạo thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030; phấn đấu đạt 100% phòng học kiên cố trong các cơ sở giáo dục mầm nọn, giáo dục phổ thông. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phỗ thông và giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên, có đủ phòng học, phòng học bộ môn, phòng chức năng, thư viện; mua sắm thiết bị dạy học và trang thiết bị phục vụ hoạt động của nhà trường đầy đủ theo quy định. Phát triển giáo dục nghề nghiệp, đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo cho lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN), lao động nông thôn, lao động nghèo khu vực đô thị; Nâng cạo năng lực đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục vùng DTTS&MN, triển khai đồng bộ các chính sách cho người dạy, người học, cơ sở giáo dục ở vùng DTTS&MN, biên giới và hải đảo để nâng cao chất lượng giáo dục, rút ngắn khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền.
Tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, thư viện và trang thiết bị dạy học cho các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông trên địa bàn nông thôn. Nguồn lực được ưu tiên cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, khu vực an toàn khu, biên giới và hải đảo. Việc đầu tư tập trung vào phòng học, phòng học bộ môn, thư viện, thiết bị dạy học tối thiểu, thiết bị phục vụ chuyển đổi số và các công trình phục vụ dạy học 2 buổi/ngày.
Đối với giáo dục mầm non, hướng dẫn đặt mục tiêu đến năm 2030 bảo đảm đủ phòng học, phòng chức năng, thư viện, đồ dùng, đồ chơi, bếp ăn, công trình nước sạch và nhà vệ sinh theo quy định; đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi.
Đối với giáo dục phổ thông, các địa phương tiếp tục đầu tư xây dựng phòng học, phòng học bộ môn, thư viện và các hạng mục phục vụ dạy học 2 buổi/ngày; phấn đấu có ít nhất 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia và bảo đảm đủ chỗ học cho ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành chương trình trung học phổ thông hoặc tương đương.
Triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm tiếp cận giáo dục công bằng, toàn diện và học tập suốt đời cho người dân vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các nhiệm vụ trọng tâm gồm phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi, duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, giáo dục hòa nhập, phát triển lớp học thông minh và mô hình học tập cộng đồng. Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng học trực tuyến để mở rộng cơ hội học tập cho người dân, nhất là hộ nghèo, hộ cận nghèo, phụ nữ, trẻ em gái và người khuyết tật.
Đối với lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn đầu tư xây mới, cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo cho các trường cao đẳng, trung cấp, trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên theo hướng hiện đại, chuẩn hóa và số hóa. Các địa phương được yêu cầu tăng cường đào tạo nghề tại chỗ, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng nghề cho lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, lao động nông thôn và lao động nghèo khu vực đô thị; tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, hợp tác xã và thị trường lao động nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo, thúc đẩy việc làm và khởi nghiệp cho lao động nông thôn.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hướng dẫn dành nhiều nội dung hỗ trợ đặc thù như đầu tư xây dựng, nâng cấp trường lớp học; nhà ở bán trú, bếp ăn, công trình phục vụ sinh hoạt cho học sinh; nhà công vụ giáo viên; thiết bị dạy học, thiết bị chuyển đổi số và hạ tầng phục vụ học trực tuyến. Việc đầu tư ưu tiên các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, an toàn khu và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý, giáo viên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số; nâng cao năng lực số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học; đồng thời triển khai các giải pháp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là người dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương và đất nước.
Với quan điểm và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai của dân tộc”; thực hiện triển khai Chương trình giáo dục mầm non mới, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và phổ cập giáo dục Mầm non là trọng tâm, đặc biệt là xóa bỏ khoảng cách giữa đô thị và vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị các địa phương: Quan tâm, bố trí nguồn lực cho các dự án, nhiệm vụ liên quan đến ngành Giáo dục vào nhóm ưu tiên hàng đầu khi xây dựng nguyên tắc, tiêu chí phân bố hạn mức kế hoạch vốn. Trong đó ưu tiên đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học thực hiện triễn khai Chương trình giáo dục mầm non mới, Chương trình giáo dục phổ thông 2018, phổ cập giáo dục; Căn cứ vào các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ của ngành Giáo dục, quy định và hướng dẫn phân bổ kế hoạch vốn ngân sách trung ương thực hiện Chương trình, tập trung rà soát làm rõ nội dung, nhu cầu đầu tư, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên để bố trí vốn đầu tư đúng đối tượng thụ hưởng. Rà soát cân đối các nguồn lực tổng thể để đề xuất vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030, kế hoạch ngân sách hẳng năm, các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 và huy động thêm các nguồn kinh phí khác để thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu. Xem xét, giao nhiệm vụ cho đơn vị có năng lực và kinh nghiệm về lĩnh vực giáo dục và đào tạo của địa phương chủ trì tổng hợp, tham mưu đề xuất phương án đầu tư, là chủ đầu tư các công trình cải tạo, sửa chữa, nâng cấp các hạng mục thuộc chương trình 417 lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Thành Lợi – Nguồn các Công văn số: 7778/UBND-KGVX; 3185/BGDĐT-KHTC