Theo đó, mục đích của Kế hoạch nhằm xác định công tác đào tạo nghề nghiệp, trong đó có thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng cho người lao động là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng nhằm góp phần thực hiện tốt một trong các khâu đột phá chiến lược mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đề ra là “Đột phá về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực phục vụ các ngành kinh tế - xã hội trọng điểm, mới nổi”
Yêu cầu đặt ra là phải chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả hỗ trợ đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định, bền vững cho người lao động; thực hiện các hình thức hỗ trợ đào tạo nghề đa dạng, linh hoạt, phù hợp với đặc điểm về trình độ năng lực, sức khỏe, nhu cầu việc làm của người lao động. Đồng thời, ưu tiên hỗ trợ đào tạo lao động phục vụ cho các mục tiêu phát triển, tái cơ cấu, chuyển dịch các ngành nghề sản xuất, dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu lao động, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của các địa phương trên địa bàn tỉnh.
Song song đó cần xác định công tác hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể; huy động sự tham gia của doanh nghiệp và người dân.
Về mục tiêu cụ thể, giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh phấn đấu hỗ trợ đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng cho 50.000 lao động, trong đó chỉ tiêu hỗ trợ đào tạo hằng năm là 10.000 lao động theo chính sách quy định tại Nghị định số 338/2025/NĐ-CP của Chính phủ, Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các chính sách, quy định khác có liên quan của cấp có thẩm quyền.
Tỷ lệ học viên hoàn thành khóa học nghề đạt trên 95%; tỷ lệ học viên có việc làm sau khi học nghề theo đúng ngành nghề đào tạo đạt trên 85%; tỷ lệ đào tạo nghề theo đặt hàng của doanh nghiệp đạt trên 60%.
Kế hoạch cũng góp phần hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp chung của tỉnh giai đoạn 2026 - 2030 là 200.000 người; góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đến cuối năm 2030 đạt 85%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ đạt 45%.
Đối tượng được hỗ trợ đào tạo nghề gồm người học là phụ nữ, người khuyết tật tham gia học các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng; ưu tiên người khuyết tật và các đối tượng lao động nữ là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, đất kinh doanh, lao động nữ bị mất việc làm.
Đối tượng hỗ trợ theo Nghị định số 338/2025/NĐ-CP gồm người lao động ở khu vực nông thôn; người lao động là thanh niên thuộc đối tượng hỗ trợ theo quy định của Luật Việc làm số 74/2025/QH15, gồm thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân; thanh niên tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội; trí thức trẻ tình nguyện sau khi hoàn thành nhiệm vụ công tác tại khu kinh tế - quốc phòng.
Đối với nhóm đối tượng hỗ trợ theo Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg, mức hỗ trợ chi phí đào tạo tối đa là 06 triệu đồng/người/khóa học đối với người khuyết tật; 04 triệu đồng/người/khóa học đối với người thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, người thuộc hộ nghèo ở các ấp, khóm đặc biệt khó khăn; 03 triệu đồng/người/khóa học đối với người dân tộc thiểu số, người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, đất kinh doanh, lao động nữ bị mất việc làm, ngư dân; 2,5 triệu đồng/người/khóa học đối với người thuộc hộ cận nghèo; 02 triệu đồng/người/khóa học đối với người học không thuộc các đối tượng nêu trên.
Người học còn được hỗ trợ tiền ăn 30.000 đồng/người/ngày thực học; hỗ trợ tiền đi lại 200.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 15 km trở lên. Đối với người khuyết tật và người học cư trú ở xã thuộc vùng khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, mức hỗ trợ tiền đi lại là 300.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 5 km trở lên.
Đối với người lao động ở khu vực nông thôn, mức hỗ trợ đào tạo theo mức thu học phí thực tế của cơ sở đào tạo, mức hỗ trợ kinh phí đào tạo tối đa 04 triệu đồng/người/khóa học; hỗ trợ tiền ăn, sinh hoạt phí trong thời gian đào tạo là 50.000 đồng/người/ngày; hỗ trợ tiền đi lại theo quy định. Đối với người lao động là thanh niên, mức hỗ trợ không vượt quá 12 tháng mức lương cơ sở theo quy định hiện hành.
Người lao động chỉ được hỗ trợ đào tạo nghề một lần; trường hợp người lao động đã được hỗ trợ đào tạo nghề nhưng bị mất việc làm do nguyên nhân khách quan, UBND cấp xã xem xét, quyết định tiếp tục hỗ trợ đào tạo để chuyển đổi việc làm theo chính sách quy định nhưng tối đa không quá 03 lần.
Để thực hiện Kế hoạch, tỉnh đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp gồm: tăng cường công tác chỉ đạo điều hành; tuyên truyền, tư vấn học nghề, tư vấn hướng nghiệp, khởi nghiệp và việc làm cho người lao động; điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầu của thị trường lao động, nhu cầu học nghề, việc làm của người lao động; nâng cao chất lượng các điều kiện đảm bảo cho hoạt động đào tạo nghề; hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng cho người lao động; kiểm tra, giám sát và đánh giá tình hình thực hiện hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động.
Trong đó, tập trung hỗ trợ đào tạo các ngành nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp như chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng trọt, sinh vật cảnh, cây kiểng, nông nghiệp công nghệ cao, sơ chế, chế biến, đóng gói nông, thủy sản; các ngành nghề thuộc lĩnh vực phi nông nghiệp như thủ công mỹ nghệ, kỹ thuật cơ khí, động lực, xây dựng, điện, điện lạnh, điện tử, kỹ thuật thẩm mỹ, công nghệ thông tin, logistics, y tế, chăm sóc sức khỏe, dịch vụ khách sạn, nhà hàng, du lịch, văn hóa nghệ thuật và các nhóm nghề công nghệ kỹ thuật, chế biến, dịch vụ khác.
Sở Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương, cơ sở đào tạo và các đơn vị liên quan tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch; đồng thời thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá, tổng hợp báo cáo định kỳ và đột xuất tình hình, kết quả thực hiện theo quy định.
Ngọc Hân – Nguồn Kế hoạch số: 211/KH-UBND