Mục đích của việc ban hành Kế hoạch nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo; tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Bên cạnh đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và người dân về vai trò của khởi nghiệp sáng tạo trong phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy hình thành và phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; khuyến khích khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới và chuyển đổi số để nâng cao năng suất, chất lượng, năng lực cạnh tranh.
Theo Kế hoạch, mục tiêu đến năm 2030, tỉnh Vĩnh Long có khoảng 20.800 doanh nghiệp đang hoạt động, 05 doanh nghiệp/nghìn dân, trong đó có 50 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; 100% cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp có nội dung đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp trong chương trình đào tạo; 100% thủ tục hành chính thiết yếu về đăng ký doanh nghiệp được thực hiện trên môi trường số; 60% chủ thể kinh doanh sử dụng công cụ, nền tảng số trong kinh doanh; 40% chủ thể kinh doanh sử dụng dịch vụ nền tảng số dùng chung. Bên cạnh đó, duy trì vận hành và phát triển ít nhất 03 vườn ươm, trung tâm đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh; phấn đấu mỗi năm có ít nhất 05 sản phẩm đổi mới sáng tạo được thương mại hóa; đồng thời, phấn đấu Chỉ số đổi mới sáng tạo của tỉnh (PII) nằm trong top 10 các tỉnh/thành phố.
Đến năm 2045, tỉnh đặt mục tiêu đạt tỷ lệ 10 người dân có một người khởi nghiệp, 35 người dân có một doanh nghiệp, và khoảng 5.000 người dân có một doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; đồng thời, phấn đấu duy trì vận hành và phát triển ít nhất 05 vườn ươm, trung tâm đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh; phấn đấu mỗi năm có ít nhất 10 sản phẩm đổi mới sáng tạo được thương mại hóa.
Để thực hiện đạt các mục tiêu trên, Kế hoạch đề ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như sau:
Truyền thông, nâng cao nhận thức, lan tỏa văn hóa khởi nghiệp sáng tạo: tổ chức quán triệt, học tập, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể về vai trò của khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong toàn thể đảng viên, quần chúng nhân dân.
Bên cạnh đó, thực hiện đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về khởi nghiệp sáng tạo trên các phương tiện thông tin đại chúng, nền tảng số và mạng xã hội nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy hành động về khởi nghiệp sáng tạo, hướng tới tạo ra sự chuyển biến căn bản, từ “nhận thức” sang “hành động” trong toàn xã hội về khởi nghiệp sáng tạo; hình thành văn hóa khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo toàn dân, xây dựng một xã hội mà khởi nghiệp sáng tạo và đổi mới sáng tạo là lựa chọn được tôn trọng và hỗ trợ.
Định kỳ tổng kết, động viên, khen thưởng, tuyên truyền, giới thiệu, nhân rộng ý tưởng, sáng kiến, điển hình khởi nghiệp thành công, mô hình đổi mới sáng tạo có hiệu quả để truyền cảm hứng và tạo động lực trong xã hội, tôn vinh khát vọng vươn lên, vượt qua chính mình, không phân biệt lứa tuổi, ranh giới, khu vực địa lý.
Lồng ghép nội dung khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo vào chương trình hành động, nghị quyết chuyên đề, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tích hợp trong chương trình giáo dục từ phổ thông tới sau đại học và trong các thỏa thuận hợp tác với các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; đồng thời, tiếp tục triển khai có hiệu quả các chương trình, kế hoạch về khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo.
Phát triển hạ tầng, cơ sở vật chất dùng chung hỗ trợ khởi nghiệp dựa trên công nghệ mới, công nghệ số, đổi mới sáng tạo: ban hành theo thẩm quyền và triển khai thực hiện cơ chế thí điểm theo quy định để doanh nghiệp nhà nước, tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục công lập, cơ sở nghiên cứu công lập, cơ sở y tế công lập tại địa phương được khai thác, sử dụng không gian, cơ sở hạ tầng, tài sản công sẵn có hỗ trợ cho hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; đồng thời, hình thành các không gian khởi nghiệp sáng tạo cộng đồng phù hợp với từng xã, phường của tỉnh để hỗ trợ khởi nghiệp, trưng bày, triển lãm, trình diễn sản phẩm khởi nghiệp của địa phương, tổ chức sự kiện kết nối, gọi vốn, đầu tư, hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tại địa phương.
Thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo, Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo của tỉnh đảm bảo phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Duy trì và phát triển các vườn ươm, trung tâm đổi mới sáng tạo tại các cơ sở đào tạo đại học trên địa bàn tỉnh. Thành lập cụm đổi mới sáng tạo địa phương (Innovation Cluster) tại địa phương trên cơ sở tiềm năng, nhu cầu thực tiễn và phù hợp định hướng quy hoạch tỉnh Vĩnh Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Ngoài ra, thí điểm đầu tư và vận hành mô hình khu thử nghiệm có kiểm soát đối với sản phẩm, dịch vụ, công nghệ mới, ưu tiên trong một số lĩnh vực tiềm năng, bao gồm tài sản mã hóa, trí tuệ nhân tạo, công nghệ tài chính, logistics và các lĩnh vực khác để thu hút tài năng khởi nghiệp và nguồn vốn đầu tư.
Hoàn thiện khung khổ pháp lý để thành lập, phát triển các mô hình doanh nghiệp mới, khuyến khích khởi nghiệp trong toàn dân: thực hiện nhanh, gọn và đúng quy trình công bố các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; đồng thời, triển khai có hiệu quả toàn bộ thủ tục hành chính đối với đăng ký, thành lập, hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện trên môi trường số, không phân biệt địa điểm vật lý. Chủ động rà soát, kiến nghị và triển khai mô hình “doanh nghiệp một người” theo hướng dẫn của Trung ương.
Bên cạnh đó, tăng cường hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong các lĩnh vực tài sản trí tuệ, gọi vốn đầu tư, thương mại hóa sản phẩm khoa học và công nghệ. Triển khai các cơ chế đặc thù cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo theo hướng dẫn của Trung ương bao gồm: xử lý phá sản, xử lý nợ xấu theo thủ tục rút gọn, đặc thù dành riêng cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo để khuyến khích tái khởi nghiệp.
Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo: đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo, mở rộng thêm nội dung đào tạo về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong đào tạo đại học, sau đại học. Xây dựng hệ thống đào tạo chuyên sâu về STEM, STEAM, khởi nghiệp, quản lý công nghệ từ phổ thông đến đại học và sau đại học.
Đồng thời, phát triển mô hình “Đại học đổi mới sáng tạo”, “Đại học khởi nghiệp”, xây dựng chương trình đào tạo doanh nhân công nghệ xuất sắc trong một số cơ sở giáo dục đại học. Xây dựng và ban hành bộ tài liệu chuẩn, khung kỹ năng, nền tảng học tập trực tuyến về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực đổi mới sáng tạo theo vùng, tăng cường bồi dưỡng cán bộ quản lý nhà nước tại địa phương về khởi nghiệp sáng tạo.
Hỗ trợ khởi nghiệp dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: hỗ trợ cơ sở vật chất, kỹ thuật, pháp lý, tài chính như đầu tư phát triển một số trợ lý ảo về pháp lý, tài chính và các lĩnh vực khác cho khởi nghiệp để sử dụng tại các đơn vị hành chính cấp xã; tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng vận hành, khai thác và sử dụng trợ lý ảo (AI) cho đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp làm nhiệm vụ tại cấp xã; phát triển nền tảng số thương mại hóa các ý tưởng, dự án, sản phẩm khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ tư vấn chuyên sâu về khởi nghiệp sáng tạo.
Hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong 05 năm đầu. Khuyến khích sử dụng kinh phí mua sắm công từ nguồn ngân sách địa phương về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để ưu tiên đặt hàng, mua, sử dụng sản phẩm, dịch vụ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, hỗ trợ ươm tạo, tăng tốc khởi nghiệp sáng tạo, tạo đột phá trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế; đồng thời, phát triển hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo.
Phát triển thị trường vốn và thúc đẩy hoạt động đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo: triển khai các cơ chế, chính sách về khởi nghiệp sáng tạo nhằm huy động và đa dạng hóa nguồn lực tài chính hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo. Đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, cá nhân khởi nghiệp sáng tạo tiếp cận các nguồn vốn, quỹ đầu tư, chương trình hỗ trợ tài chính.
Đồng thời, triển khai các chính sách theo hướng dẫn của Trung ương về thí nghiệm cơ chế bảo lãnh tín dụng và cho vay vốn đặc thù đối với các dự án, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo dựa trên công nghệ, tài sản vô hình, tài sản trí tuệ, hợp đồng đặt hàng và các loại tài sản khác.
Đẩy mạnh hợp tác trong và ngoài nước thu hút nguồn lực, phát triển nội lực khởi nghiệp sáng tạo của tỉnh: thúc đẩy các hợp tác về khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo; kết nối, hợp tác với các chương trình ươm tạo, tăng tốc khởi nghiệp đạt hiệu quả. Kết nối, mở rộng mạng lưới khởi nghiệp sáng tạo; xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư, thiết lập kênh kết nối cho khởi nghiệp sáng tạo tại các thị trường trọng điểm, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo nước ngoài tiếp cận, hoạt động tại thị trường tỉnh Vĩnh Long. Hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ ra thị trường quốc tế, ưu tiên sử dụng nền tảng số.
Phát triển hạ tầng, công cụ hướng tới chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo: tổ chức triển khai, khai thác hiệu quả các nền tảng số, hạ tầng số dùng chung, công cụ số, trợ lý trí tuệ nhân tạo do Trung ương và các tổ chức cung cấp; hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng các sản phẩm, giải pháp công nghệ số, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và khởi nghiệp sáng tạo. Tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo phát triển các sản phẩm, giải pháp phục vụ chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, liên kết giữa doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo với các tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, quỹ đầu tư, trường đại học và cộng đồng khởi nghiệp sáng tạo; đặt hàng cộng đồng khởi nghiệp sáng tạo giải quyết các bài toán chuyển đổi số cụ thể của doanh nghiệp nhỏ và vừa; đồng thời, tăng cường thu hút, kết nối chuyên gia, nhân lực chất lượng cao trong và ngoài nước tham gia hoạt động đổi mới sáng tạo tại tỉnh; hỗ trợ các Trung tâm Trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp tỉnh mời chuyên gia, cố vấn khởi nghiệp tham gia đào tạo, tư vấn và chuyển giao tri thức.
Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối, chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan hướng dẫn, đôn đốc, tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch. Bên cạnh đó, Sở thực hiện vai trò điều phối mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo tại địa phương; đồng thời, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện bộ chỉ số đánh giá cấp tỉnh và cấp xã, phường về khởi nghiệp sáng tạo; thu thập và cập nhật thông tin vào hệ thống quản lý hồ sơ và dữ liệu quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Hoàng Giàu - Nguồn Kế hoạch số: 216/KH-UBND