Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Sở Công Thương, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính, Liên minh Hợp tác xã, các sở, ngành, đơn vị có liên quan và Ủy ban nhân dân các xã, phường triển khai thực hiện Công văn số 7812/BNNMT-KHCN ngày 15 tháng 7 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản và kết nối, chia sẻ dữ liệu theo đúng quy định; báo cáo kết quả thực hiện về Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo thời gian quy định.
Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đã chính thức được công bố và đưa vào vận hành từ ngày 01/7/2026. Hệ thống gồm 03 hợp phần chính (trong đó hợp phần dành cho người dân truy xuất tại: https://txng.mae.gov.vn và https://mae.txng.gov.vn).
Để thống nhất tổ chức triển khai, mở rộng kết nối, chia sẻ dữ liệu và phát huy hiệu quả Hệ thống trên phạm vi cả nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao Sở Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan đầu mối, chủ trì xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản trên địa bàn; phối hợp cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc triển khai kết nối, tích hợp các hệ thống truy xuất nguồn gốc hiện có theo chuẩn dữ liệu, chuẩn kết nối và giao diện lập trình ứng dụng (API) do Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố; bảo đảm nguyên tắc "một lần khai báo, nhiều lần sử dụng", kết nối mở, chia sẻ dữ liệu, không làm gián đoạn hoạt động của các hệ thống đang vận hành.
Rà soát, chuẩn hóa, cập nhật, quản lý và chia sẻ dữ liệu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, cơ sở sản xuất, cơ sở chăn nuôi, cơ sở nuôi trồng thủy sản, doanh nghiệp, hợp tác xã, sản phẩm và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý để kết nối, đồng bộ với Hệ thống; bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác, kịp thời. Lựa chọn các sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP, sản phẩm xuất khẩu và các chuỗi sản xuất trọng điểm của địa phương để ưu tiên triển khai truy xuất nguồn gốc; hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất và người dân tham gia Hệ thống; từng bước mở rộng phạm vi triển khai trên địa bàn. Lồng ghép triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản với các chương trình, đề án, kế hoạch về chuyển đổi số trên địa bàn; quản lý, xây dựng và phát triển các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, vùng nguyên liệu, mã số phục vụ sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu. Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; định kỳ đánh giá kết quả thực hiện và gửi báo cáo về Bộ Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp, báo cáo Ban Chỉ đạo.
Các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp tuyên truyền, vận động toàn thể hội viên, các cơ sở sản xuất nông sản, hộ sản xuất tham gia triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương phổ biến cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chuẩn dữ liệu về truy xuất nguồn gốc; tổng hợp, phản ánh những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách, góp phần phát triển hệ sinh thái truy xuất nguồn gốc. Chủ động triển khai truy xuất nguồn gốc và tham gia Hệ thống; thực hiện cập nhật, quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu truy xuất nguồn gốc đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của thông tin đã cung cấp; phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị cung cấp giải pháp trong quá trình kết nối, vận hành, khai thác và hoàn thiện Hệ thống; từng bước mở rộng áp dụng truy xuất nguồn gốc đối với các sản phẩm và chuỗi sản xuất nông sản.
Các đơn vị cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc chủ động thực hiện kết nối, tích hợp các hệ thống truy xuất nguồn gốc với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản theo chuẩn dữ liệu, chuẩn kết nối và giao diện lập trình ứng dụng (API) theo quy định. Phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước, các địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp và cơ sở sản xuất trong quá trình triển khai, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu; tiếp tục nghiên cứu, phát triển các giải pháp, dịch vụ truy xuất nguồn gốc, góp phần xây dựng hệ sinh thái truy xuất nguồn gốc theo nguyên tắc tự nguyện, kết nối mở, liên thông, chia sẻ dữ liệu, xã hội hóa và cạnh tranh bình đẳng.
Lâm Dung – Nguồn Công văn số: 10621/UBND-KTN, và Công văn số: 7812/BNNMT-KHCN