Ngày 31/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP (gọi tắt là Nghị quyết số 36) quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Nghị quyết số 36 điều chỉnh, bổ sung một số quy định về nguyên tắc, hồ sơ, trình tự, thẩm quyền cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói tại Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/01/2026 của Chính phủ quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực này. Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31/7/2026 đến khi Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 38/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.
Theo Nghị quyết số 36, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng theo nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự khai, tự chịu trách nhiệm; giảm thời gian, chi phí tuân thủ; đơn giản hóa thủ tục hành chính; không phát sinh thủ tục hành chính mới; tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch, khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất, đóng gói sản phẩm cây trồng.
Tại Hội nghị triển khai Nghị quyết số 36 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt cho biết Nghị quyết có nhiều điểm mới nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Theo đó, việc cấp và quản lý mã số được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng, bảo đảm công khai, minh bạch, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong thực hiện thủ tục hành chính.

Để triển khai hiệu quả Nghị quyết số 36, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Châu Văn Hòa chỉ đạo khẩn trương xây dựng kế hoạch triển khai, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị trực thuộc; xác định rõ tiến độ, thời gian, nội dung và công việc cần thực hiện.
Nghị quyết quy định việc thực hiện thủ tục hành chính gắn với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát và truy xuất nguồn gốc; chỉ thực hiện tiền kiểm đối với trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Một điểm mới khác là phân cấp cho Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện thủ tục hành chính về cấp, cấp lại mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Việc phân cấp gắn với trách nhiệm của chính quyền địa phương trong kiểm tra, xác minh thông tin, đồng thời có sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Nghị quyết cũng đơn giản hóa thành phần hồ sơ, chỉ còn đơn đề nghị cấp mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói. Theo Cục trưởng Huỳnh Tấn Đạt, việc cắt giảm này giúp giảm khoảng 50% thành phần hồ sơ so với trước.
Thời gian giải quyết thủ tục được rút ngắn còn không quá 3 ngày làm việc đối với trường hợp không đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số và không quá 10 ngày làm việc đối với trường hợp đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số.
Bên cạnh đó, Nghị quyết khuyến khích các tổ chức, cá nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn để cấp mã số vùng trồng. Mã số vùng trồng được cấp cho một loại cây trồng xác định theo vị trí của một hoặc nhiều thửa đất; vị trí thửa đất được xác định theo mã định danh trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Trường hợp chưa có hoặc chưa khai thác được mã định danh, tổ chức, cá nhân được kê khai diện tích, vị trí và UBND cấp xã xác nhận trong quá trình kiểm tra thực tế hoặc hậu kiểm.
Dữ liệu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được quản lý tập trung trên hệ thống xử lý nghiệp vụ, công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời kết nối, chia sẻ với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản và các cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP được đánh giá là bước đi đột phá nhằm cắt giảm rào cản hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia chuỗi sản xuất và xuất khẩu nông sản. Nghị quyết tập trung giải quyết hai mục tiêu cốt lõi là đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Dữ liệu được quản lý theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống", toàn bộ quy trình được công khai, minh bạch. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ thành lập tổ công tác hỗ trợ các địa phương xây dựng mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói hiệu quả.
Để Nghị quyết số 36 sớm đi vào cuộc sống, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương khẩn trương xây dựng kế hoạch triển khai; hỗ trợ cấp xã tập huấn, chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng và cơ sở đóng gói; tăng cường kiểm tra, giám sát, tuyên truyền; đồng thời hoàn thiện hệ thống số, hướng dẫn kỹ thuật, kết nối dữ liệu và hỗ trợ địa phương trong quá trình thực hiện.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói thời gian qua đã được tỉnh Vĩnh Long triển khai đồng bộ, tạo nền tảng để thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 36. Đến nay, toàn tỉnh đã cấp mã số cho 537 vùng trồng với tổng diện tích hơn 29.125 ha và 42 cơ sở đóng gói. Việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính, kiểm tra, giám sát và tập huấn được triển khai thường xuyên theo quy định, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Nghị quyết số 36 được kỳ vọng tạo thuận lợi trong cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, góp phần nâng cao giá trị nông sản.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Châu Văn Hòa nhấn mạnh, Nghị quyết số 36 là bước tiến quan trọng trong đơn giản hóa thủ tục hành chính về cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, địa phương khẩn trương triển khai thực hiện Nghị quyết số 36.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương xây dựng kế hoạch triển khai, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị trực thuộc; xác định rõ tiến độ, thời gian, nội dung và công việc cần thực hiện. Đồng thời, hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; chủ động đề xuất với Bộ Nông nghiệp và Môi trường hỗ trợ tập huấn, hướng dẫn cho 124 xã, phường trên địa bàn tỉnh.
Sở Nông nghiệp và Môi trường cũng được giao tham mưu UBND tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền về Nghị quyết số 36 bằng nhiều hình thức như trên Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long, báo chí, pa nô, băng rôn, sổ tay tuyên truyền; đồng thời tham mưu thành lập Ban Chỉ đạo để chỉ đạo, theo dõi việc triển khai tại các xã, phường. Ban Chỉ đạo sẽ tổ chức sơ kết hằng tuần nhằm rà soát, đánh giá tiến độ thực hiện và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Cùng với đó, tham mưu bố trí nguồn lực, nhân lực, kinh phí phục vụ triển khai và hướng dẫn các địa phương thành lập tổ khuyến nông cộng đồng.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Châu Văn Hòa phát biểu chỉ đạo.
Đối với UBND các xã, phường, Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu khẩn trương xây dựng kế hoạch triển khai Nghị quyết số 36; phân công nhiệm vụ cho các bộ phận chuyên môn; xác định rõ tiến độ thực hiện việc cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trên địa bàn; gắn việc triển khai với thành lập hợp tác xã và tổ khuyến nông cộng đồng. Trường hợp cần thiết, thành lập tổ công tác do Phó Chủ tịch UBND cấp xã phụ trách để điều phối việc thực hiện cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; đồng thời giao Văn phòng UBND tỉnh sớm ban hành thông báo kết luận để các đơn vị triển khai thực hiện.
Ngọc Hân